Ngoại sử chép rằng trong một tiệc tân niên đãi
các sứ thần ngoại quốc, Từ Hi Thái Hậu nhà Thanh đã tổ chức một bữa ăn
gồm tổng cộng 365 món, kéo dài bảy ngày đêm, mỗi ngày có một món đặc
biệt. Bảy món cho bảy ngày là Linh Chi, tượng tinh, sơn dương trùng,
chuột bạch bao tử, óc khỉ, trứng công, và nhũ trư (heo sữa).
Bữa tiệc kéo dài từ sáng mồng một đến mồng bảy tháng
giêng. Những món ăn đãi thực khách dĩ nhiên là cầu kỳ không phải chỉ vì
bào chế công phu mà còn cả tìm tòi, săn bắt hay nuôi dưỡng rất kỹ lưỡng.
Thế nhưng Linh Chi là cái gì mà được đưa lên hàng đầu trong danh sách
của thực đơn 365 món? Phải chăng đó là những cái nấm màu đen sì, bóng
nhẫy mà chúng ta vẫn thấy người ta để hàng rổ trong các tiệm thuốc bắc?
Lẽ đâu Linh Chi lại dễ dàng đến thế
Không, chính loại nấm đó tên
gọi Linh Chi, là dược thảo đứng đầu trong Bản Thảo Kinh. Bản Thảo Kinh
tên nguyên thủy là Thần Nông Bản Thảo Kinh, được hình thành vào khoảng
cuối đời Ðông Hán, là của người đời sau thác danh họ Thần Nông sáng tác.
Tác
phẩm này tập hợp những kinh nghiệm về dược vật từ đời Hán trở về trước,
tất cả 365 loại, trong đó thực vật chiếm đa số (252 vị), kế là động vật
(67 vị) và sau cùng là khoáng thạch (46 vị) và có thể coi là cuốn sách
về dược học đầu tiên của Trung Hoa. Cuốn kinh này chia các vị thuốc ra
làm ba loại, thượng, trung và hạ phẩm. Linh Chi là dược loại đứng đầu
của thượng phẩm, trên cả nhân sâm, là một dược thảo được xem là kỳ diệu,
có rất nhiều hiệu năng, dùng lâu không hại, có thể giúp người ta diên
niên trường thọ. Thời trước chỉ có vua chúa và vương hầu biết tới chứ
người bình dân thì chỉ nghe mà không mấy khi được gặp.
Cây nấm đó
còn mang nhiều huyền thoại còn lạ lùng hơn cả nhân sâm. Người ta bảo
rằng nấm này chỉ mọc tại những khu rừng hoang vu, vào thời điểm nhất
định, mà không phải là người có duyên phận lớn thì không gặp được. Những
khối ngọc tạc theo hình chiếc nấm này gọi là ngọc như ý, tượng trưng
cho sống lâu, ta thấy nơi tay các tiên ông trong tranh cổ.
Linh
Chi đã được biết từ nhiều ngàn năm trước. Tần Thủy Hoàng muốn kiếm những
cây nấm này nên sai đạo sĩ Từ Phúc đem 1500 đồng nam, 1500 đồng nữ dong
thuyền ra Ðông Hải tìm thuốc trường sinh. Phái đoàn đó ra đi mà không
thấy trở về, không biết vì mất tích ngoài biển cả hay vì không kiếm ra
nên sợ không dám về phục mệnh. Có thuyết cho rằng họ đã định cư trên
quần đảo Phù Tang và là tổ tiên của người Nhật hiện nay.

Trong
lịch sử không biết bao nhiêu người đã tìm cách gây giống và trồng loại
nấm này nhưng đều thất bại. Mãi tới năm 1971, hai nhà bác học người Nhật
tên là Yukio Naoi và Zenzaburo Kasai, giáo sư của phân khoa nông
nghiệp, đại học Kyoto mới thành công trong việc gây giống và người ta
mới sản xuất được vị thuốc này một cách qui mô. Từ đó Linh Chi được
trồng và sử dụng trong việc bào chế chứ không chỉ là huyền thoại.
Hiện
nay, thế giới hàng năm sản xuất vào khoảng 4,300 tấn, trong đó riêng
Trung Hoa trồng khoảng 3000 tấn còn lại là các quốc gia Ðại Hàn, Ðài
Loan, Nhật Bản, Thái Lan, Hoa Kỳ, Malaysia, Việt Nam, Indonesia và Sri
Lanka. Nhật Bản tuy tìm ra cách trồng nhưng nay chỉ sản xuất khoảng 500
tấn mỗi năm, đứng sau Trung Hoa. Kỹ nghệ trồng Linh Chi ngày càng phát
triển, và tại Việt Nam nhiều nhà nông nghiệp học cũng đã nghiên cứu và
thiết lập một trại trồng và bào chế Linh Chi ở Saigon từ năm 1987.
Linh Chi, viết theo kiểu phiên âm Trung Hoa Lingzhi hay Lingchih, tên Nhật reishi, tên khoa học Ganoderma lucidum,
là một loại nấm thuộc họ đa khổng (polyporaceae), thường mọc trên những
cây mục. Thời xưa người ta chỉ có thể tìm thấy nấm trong rừng, trên
những núi cao chứ không cách gì gây giống được. Có sách lại nói là Linh
Chi chỉ tìm thấy ở phía tây núi Thái Hàng. Chính vì thế mà cây nấm này
càng mang nhiều truyện thần kỳ. Trong truyện Bạch Xà tinh, Linh Chi có
tác dụng cải tử hoàn sinh, làm cho người chết có thể sống lại được. Vì
chưng người ta còn gọi là Linh Chi thảo nên nhiều tác giả đã cho rằng
đây là một loại cây cỏ.
Thực ra, như trên đã nói, Linh Chi là một loại nấm.
Trong
thiên nhiên, nấm này thường chỉ có nơi rừng rậm, ít ánh sáng và độ ẩm
cao. Những cây thường có Linh Chi là cây mận, dẻ (pasania), và guercus
serrata. Tuy nhiên trong hàng vạn cây già, chỉ có độ hai ba cây có Linh
Chi. Vì thế nấm này rất hiếm trong dạng thiên nhiên. Hơn thế nữa, nấm
tìm được thường không mấy khi nguyên vẹn mà hay bị sâu bọ cắn nát. Vỏ
ngoài của Linh Chi rất cứng, nên việc nẩy mầm càng thêm khó khăn và việc
tìm được cây nấm trở thành huyền thoại. Khi may mắn kiếm được, người ta
thường phải dấu cả người thân và coi như một gia bảo. Mỗi khi kiếm được
loại nấm này, cả vùng đó mở hội ăn mừng và lập tức loại dược thảo quí
dược này được đem tiến cung. Linh Chi càng huyền bí khi người ta còn đặt
cho nó cái tên vạn niên Linh Chi, cho rằng ai ăn được nó sẽ trường sinh
bất tử.
Tuy nhiên phần chúng ta nhìn thấy ở cây nấm chỉ là bộ
phận nổi, vì chính cây nấm là phần nằm ngầm trong thớ gỗ, có tên khuẩn
ti thể (mycelium), là những đường dây chằng chịt, giống như rễ cây có
nhiệm vụ hút chất bổ nuôi thân. Và khi nào điều kiện còn thuận tiện,
phần ngầm này tiếp tục phát triển và nẩy ra những cánh nấm. Những cây
nấm này là một bộ phận tái biến chế (recyclers) quan trọng trong thiên
nhiên vì nó làm gia tăng tiến trình hủ nát của thảo mộc, góp một phần
quan trọng vào môi trường chúng ta đang sống. Những cây cỏ sẽ biến thành
mùn nuôi sống các cây khác. Không có những cây nấm, thế giới sẽ chỉ là
một bãi rác khổng lồ, chất đầy những vật liệu chết, mà phải mất một thời
gian rất lâu mới tiêu đi được.
Linh Chi có nhiều hình dạng khác
biệt, có cái hình nấm nhưng mũ nấm không tròn mà nhăn nheo, có thứ giống
như trái thận, có thứ lại hình giống như sừng hươu. Theo Thần Nông Bản
Thảo có 6 loại Linh Chi, mỗi loại có một công năng đặc biệt. Thanh chi
(xanh) vị toan bình, giúp cho mắt sáng, bổ can khí, giúp cho an thần,
nhân thứ, dùng lâu sẽ thân thể nhẹ nhàng, thoải mái. Xích chi (đỏ), vị
đắng, chủ vị, ích tâm khí, tăng trí tuệ. Hắc chi (đen) ích thận khí,
khiến cho đầu óc tinh tường. Bạch chi (trắng) ích phế khí, làm cho trí
nhớ dai. Hoàng chi (vàng) ích tì khí, an thần, trung hòa. Tử chi (tím
đỏ) bảo thần, ích tinh, làm cứng gân cốt, da tươi đẹp. Cả sáu loại đều
có công năng giúp người ta thân thể khinh linh, tiêu sái, trẻ mãi không
già, trường thọ.
Bản Thảo Cương Mục của Lý Thời Trân viết là
"dùng lâu, người nhẹ nhàng, không già, sống lâu như thần tiên". Nói
chung, Linh Chi bổ đủ ngũ tạng, nhưng mỗi loại bổ một khác. Tuy nhiên
những biện biệt trong Thần Nông Bản Thảo xem ra chỉ thuần lý, dựa trên
ngũ hành, ngũ sắc để luận hơn là được thử nghiệm thực tế. Màu xanh thuộc
mộc, chủ can nên thanh chi bổ gan, màu trắng thuộc kim, chủ phế nên
bạch chi bổ phổi, màu đen thuộc thủy, chủ thận nên bổ thận, màu vàng
thuộc thổ, chủ tì vị nên bổ tì. Những tác dụng và hậu quả đều do hệ luận
đó mà ra.
Gần đây khi tìm được cách gây giống, những khoa học
gia Nhật Bản chứng minh được rằng những cây nấm màu sắc khác nhau không
phải vì khác loại mà chỉ vì môi trường và điều kiện sinh hoạt khác nhau.
Thay đổi điều kiện người ta có thể có được đủ sáu loại từ cùng một
giống.
Kỹ nghệ trồng Linh Chi
Tiến
trình nẩy mầm của Linh Chi mọc hoang và do người trồng không khác gì
nhau. Linh Chi không thể nào trưởng thành nếu không có những điều kiện
tối ưu gần với điều kiện thiên nhiên ở những nơi tìm thấy giống nấm này.
Linh Chi mọc hoang thường phẩm chất không được tốt mấy vì không phải ở
đâu cũng có những điều kiện môi sinh lý tưởng. Hơn nữa, Linh Chi hoang
lại hay bị các loại bệnh tật nên thường ít khi nguyên vẹn.
Người
ta trồng Linh Chi thường theo ba phương pháp chính: cấy trên các khúc
gỗ, cấy trong chai lọ hay ống nghiệm, và cấy trong bồn lớn. Trong ba
mươi năm qua, nhiều cuộc thí nghiệm đã được tiến hành để tìm xem phương
pháp nào hiệu quả nhất và gặt hái được loại phẩm chất tốt hơn cả. Theo
những kết quả thu lượm được, việc trồng Linh Chi trên thân cây có kết
quả nhất. Tuy nhiên, ngoài việc chọn gỗ, nhiều yếu tố khác cũng ảnh
hưởng nhiều đến phẩm chất của cây nấm, đó là: giống đã chọn (strain),
phương pháp cấy (method of cultivation), mùa thu hoạch (harvest time) và
cách bào chế (treatment).
Chọn giống
Có
nhiều loại giống trong việc trồng nấm nhưng bao gồm ba loại chính GYN,
GYK và GYG. Mỗi loại giống, tai nấm (pileus) lại có nhiều màu sắc, mỗi
màu có công dụng bổ ích khác nhau. Loại GYN có đủ năm màu, đỏ, xanh,
đen, vàng, trắng trong khi loại GYK chỉ có màu vàng nhạt và GYG có màu
trắng ngà.
Phương pháp trồng
Người
ta thấy là tác dụng y học của Linh Chi nằm trong lớp bào tử (hymenium)
nên loại nấm nào cho nhiều bào tử là loại nấm tốt. Ðể đạt được kết quả
đó, nhiều nguyên tắc phải tôn trọng chẳng hạn như phải trồng bằng gỗ
khúc (wood logs), trong những điều kiện nảy nở thiên nhiên (nhiệt độ, ẩm
độ, ánh sáng, thán khí, gió và vi khuẩn trong mùn).
Một trong những
nguyên tắc quan trọng là phải làm sao cho cây nấm càng gần thực tế càng
tốt chứ không quá nhân tạo. Ở Nhật người ta dùng loại gỗ sồi (oak) tên
là Kashi và Kunugi còn ở Việt Nam thì dùng cây cao su. Người Nhật đã tìm
ra một phương pháp tương đối hoàn hảo, gọi là phương pháp MIKEI, là
phương pháp trồng Linh Chi đỏ thông dụng nhất. Phương pháp này do gia
đình họ Mayasumi, một gia đình đã có quá trình chuyên về trồng nấm trong
hơn một trăm năm qua, thực hiện. Người ta tháp một mảnh Linh Chi vào
cây gỗ, sau đó đem cả khúc gỗ vào trong nhà kính, được kiểm soát tinh vi
bằng máy móc để giữ cho mọi điều kiện nảy mầm luôn luôn tối hảo.
Thu hoạch đúng mùa
Mọi
loại thực vật đều có một cao điểm để thu hoạch, là thời kỳ tập trung
cao độ mọi năng lực, theo lý luận Ðông phương là đầy đủ tinh khí thần.
Thời kỳ này là thời kỳ thu hoạch thích hợp nhất, và cũng chính là lợi
điểm của việc trồng Linh Chi vì người ta có thể tính toán được thời
khắc. Chỉ có những cây nấm tốt nhất, hình trái thận mới được thu hoạch.
Bào chế đúng cách
Linh
Chi có khả năng chống lại bệnh tật cao hơn cả khi được dùng tươi, và đó
là lợi ích mà người ta muốn khai thác. Vì thế, việc bào chế để Linh Chi
giữ được công năng đó là một điều cần thiết. Ðể cho khỏi mục nát, nhà
trồng tỉa phải xấy khô nhưng phương pháp xấy, tàng trữ và bảo trì phải
được thi hành đúng cách. Phương pháp mới nhất là hấp Linh Chi bằng nhiệt
độ thấp (80o C) trong ba tới bốn giờ cho bốc hết hơi nước còn trong cây
nấm. Sau đó nấm được xay thành bột và ninh trong nước để rút hết tinh
túy ra. Nước cốt đó lại được đun sôi ít nhất ba lần và dùng phương pháp
chân không để xấy khô, làm thành viên hay đóng chai.
Công dụng của Linh Chi
Theo
giáo sư Hiroshi Hikino, một bác học chuyên về dược thảo thì Linh Chi là
một trong những vị thuốc bổ quan trọng nhất trong Ðông y. Các thầy
thuốc đã dùng Linh Chi trong các chứng mệt mỏi, suy nhược, tiểu đường,
các chứng bệnh về gan, và nhiều chứng thuộc hệ thống đề kháng của cơ
thể. Theo Lý Thời Trân trong Bản Thảo Cương Muc thì Linh Chi có tác dụng
bổ tâm khí, chữa các chứng nhói ngực. Hiện nay, Linh Chi được dùng để
giảm áp huyết, kích thích sự làm việc của gan, tẩy máu, và giúp cơ thể
chống lại các chứng lao lực quá độ. Trong một mức độ nào đó, Linh Chi có
tác dụng giải độc trong cơ thể.
Ngoài ra Linh Chi còn được dùng
để chữa bệnh mất ngủ, loét dạ dày, tê thấp, suyễn, sưng cổ họng. Người
ta cũng không thấy có phản ứng phụ hay tác dụng xấu nào khi dùng lâu.
Người Trung Hoa hiện nay còn dùng Linh Chi để cho da mặt thêm mịn, có lẽ
là do các chất hormone trong loại nấm này. Nhiều y gia Nhật Bản lại
dùng Linh Chi trong các loại thuốc trị rụng tóc. Vì tác dụng bổ khí và
làm tăng hệ thống miễn nhiễm của cơ thể, người ta còn dùng Linh Chi để
phụ với các loại thuốc trị ung thư. Bác sĩ Fukumi Morishige, một chuyên
gia giải phẫu tim đang nghiên cứu công dụng của Linh Chi trong việc trị
bệnh ung thư tại viện Linus Pauling Institute of Science & Medicine,
Hoa Kỳ, cho biết là dùng Linh Chi chung với sinh tố C liều lượng lớn
(megadose) có tác dụng mạnh hơn vì sinh tố C giúp cho việc hấp thụ dược
tính của Linh Chi.
Nhiều trường hợp chữa lành hay thuyên giảm
bệnh đã được bác sĩ Morishige trình bày trên các tập san y học. Những
công dụng của Linh Chi vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, dùng đơn lẻ
hay dùng chung với các loại dược thảo khác. Hầu như Linh Chi có thể dùng
để chữa rất nhiều chứng bệnh khác nhau nên người ta đã đặt cho cái tên
nấm trường sinh.
Ở Trung Hoa, Linh Chi được trồng chính yếu tại
mười khu vực, bao gồm vùng ngoại ô Bắc Kinh, Tứ Xuyên, Thiết Kim, và An
Huy. Người Tàu thường trồng nấm trong bao vinyl để sản xuất qui mô, cho
số lượng nhiều. Họ cũng còn theo phương pháp trồng trên gỗ của Nhật
nhưng không thông dụng lắm. Trên thế giới, người Trung Hoa vẫn là sắc
dân chủ yếu tiêu thụ các sản phẩm về Linh Chi. Hiện nay trên thị trường
có bán đủ loại từ nấm nguyên dạng đến bột, capsule, hay gói trà, hoặc
ngâm trong rượu. Ngoài ra họ còn dùng Linh Chi trong các loại thức ăn.
Trong
vòng năm mươi năm qua, con người đã tìm ra được những loại thuốc có sức
đề kháng cao với vi trùng từ một số cây nấm hay mốc trong đó có những
loại trụ sinh đầu tiên như penicilin, tetracycline, aureomycin. Kỹ nghệ
trồng nấm cung cấp cho chúng ta một số thực phẩm dồi dào chất đạm và
sinh tố. Việc trồng nấm để làm thuốc cũng ngày càng tinh vi. Chính nhờ
đó người ta đã phục hồi lại được một vị thuốc mà chỉ hai mươi năm trước
còn là huyền thoại vì chỉ nghe mà không mấy ai được thấy bao giờ.
Nguyễn Duy Chính, tháng 12-1998
(Nguồn: nhanmonquan.net)
THAM KHẢO :
Nhóm
nấm quý họ Linh chi (Ganodermataceae), sống trên cây, trên gỗ hay rễ
cây mục. NLC phiên âm theo tiếng Trung Quốc là lingzhi, theo tiếng Nhật
là reishi. Cho tới nay đã có 386 tên loài được ghi nhận trên toàn thế
giới thuộc họ Linh chi, trong đó 221 loài được các nhà khoa học công
nhận, hơn 200 loài còn lại là các loài đồng nghĩa (synonym), các loài
được sắp xếp nhầm vào họ Linh chi và gần 10 loài chưa định loại được.
Các loài trên được sắp xếp vào các chi sau: Linh chi bóng (Ganoderma)
với 166 tên (48 có thể là synonym), Hắc chi bào tử hình cầu
(Amauroderma) với 96 tên (41 có thể là synonym), Linh chi bào tử có rãnh
dọc (Haddowia) với 5 loài (2 loài có thể là synonym) và các chi Linh
chi bào tử mạng lưới (Humphreya) với 10 loài (3 loài có thể là synonym),
Linh chi hải miên (Tomophagus) với 2 loài (1 loài có thể là synonym),
Linh chi không bóng (Elfvingia) với 51 loài (21 loài có thể là synonym)
có khi còn được một số tác giả gộp chung vào chi Linh chi bóng.
Đặc
trưng cơ bản của NLC là có hệ sợi nấm ban đầu màu trắng, mọc kí sinh
hay hoại sinh trong cây, trong gỗ hay trên đất giàu mùn gỗ, khi gặp điều
kiện thuận lợi hình thành nên quả thể nấm chất bần đến chất gỗ, có khi
hoá sừng rất cứng. Chúng có thể có cuống hay không có cuống với phần
thịt nấm ở trên và ống nấm ở phía dưới. NLC có bào tử đặc trưng gồm hai
lớp (hình cầu đến hình trứng cụt đầu, đôi khi có các gờ trang trí theo
chiều dọc hay mạng lưới đặc trưng cho từng chi). Nhóm NLC bao gồm các
loài sống một năm (đơn niên) và các loài sống nhiều năm (đa niên được
gọi là cổ NLC). Phân bố trên toàn thế giới nhưng phong phú và đang dạng
nhất là ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Nhóm NLC bao gồm
các loài sống kí sinh trên cây gây mục ruỗng, trên cây chết hoặc đã chặt
hạ, trên rễ cây mục hoặc đất có mùn gỗ mục và thường là các loài có hệ
enzim mạnh, phân huỷ gỗ cây nên mục trắng gỗ, gây hại cây rừng cũng như
cây công nghiệp, cây ăn quả. Tuy nhiên từ trước Công nguyên, NLC đã được
coi là vị thuốc quý, được nhân dân Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt
Nam... sử dụng và được coi là thượng dược, có khi còn hơn cả nhân sâm.
Gần đây, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu các chất có hoạt tính
sinh học của NLC, trong đó đáng kể nhất là một số polisacarit, peptit và
đặc biệt là hơn 100 tritecpenoit (ganoderic, ganodermic axit...). Các
hợp chất trên có tác dụng kháng khuẩn, giảm cholesterol trong máu, giữ
vững và tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, chống oxi hoá... Vì
vậy chúng có khả năng phòng chống nhiều bệnh hiểm nghèo thuộc hệ tuần
hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hoá, hệ bài tiết, ung thư... cũng như tăng tuổi
thọ và nâng cao trí nhớ.
Ở Việt Nam đã định tên được hơn 40 loài
NLC và còn hàng chục loài khác mới chỉ định tên được đến chi. Khu hệ
NLC của Việt Nam rất đa dạng về thành phần loài và dạng sống (có loài
đường kính lớn tới 110 cm), nhiều loài rất quý hiếm có giá trị dược liệu
cao cần được nghiên cứu, bảo tồn nguồn gen và sử dụng hợp lí để giữ gìn
và nâng cao sức khoẻ của nhân dân, xử lí môi trường và giữ cân bằng cho
hệ sinh thái bền vững của đất nước.
(Nguồn: BKTVN)
Lingzhi, reishi
Cây nấm Linh Chi
Nguyễn Duy Chính, BKTVN