Từ một bản tin trên báo Quảng Nam ngày
25/6/2008 : “Mô hình trồng cây đẳng sâm đầu tiên ở Tam Kỳ đạt kết quả
khả quan”, trong vòng 5 ngày sau đó có đến 3 tờ báo là Người Lao động,
Nông nghiệp Việt Nam, Thanh Niên đã liên tục đăng lại nội dung bài này.
Một sinh viên năm thứ 4 của Đại học Sư phạm Đà Nẵng (lớp 05 CSM2) là Lê
Thị Minh Châu đã cất công đến địa chỉ các báo giới thiệu để năn nỉ xin
cho kỳ được một mẩu cây, cả củ đem về định nuôi cấy mô nhân giống làm đề
tài nghiên cứu khoa học. Mất một ngày tìm đọc tài liệu mà không thấy
cây sâm nào giống mẫu vật đang có nên bạn sinh viên nọ đã tìm đến Văn
phòng đại diện Tạp chí Cây thuốc quý (CTQ) nhờ xác định.
Trước đó, sáng ngày
26/7/2004, một độc giả là bác Phạm Ngọc Tảo, 75 tuổi, cán bộ hưu trí tại
tổ 64, phường An Khê, quận Thanh Khê, Đà Nẵng cũng có một thắc mắc nhờ
giải đáp. Nguyên là bác được người quen biếu một cây thuốc gọi là “sâm
ngọc linh”, bác đã trồng, chăm sóc cẩn thận và thu được củ rễ và quả hạt
nhưng chưa dám sử dụng, vì ngờ ngợ thấy cây thuốc đó không được giống
hình cây sâm ngọc linh. Bác đã viết thư và gửi mẫu cây tới tòa soạn CTQ
để hỏi, nhưng do đường xa, mẫu cây lá bị khô héo khó xác định nên tòa
soạn chưa trả lời kịp. Vì vậy bác đã lần theo địa chỉ trên tạp chí tìm
đến tôi để hỏi.
Thương lục còn có tên
là trưởng bất lão, kim thất nương, tên khoa học là Phytolacca acinosa
Roxb. (P. esculenta Van Houtte), là cây mới được di thực du nhập vào
nước ta mấy thập kỷ gần đây. Trong nước vốn có sẵn loài thương lục
Phytolacca decandra L. còn gọi là thương lục Mỹ (Phytolacca americana L.) hay
dân gian còn gọi sâm voi vì cây mau lớn, sau 6 - 7 tháng cho củ to bằng
cổ tay hình rất giống củ sâm (sự nhầm lẫn chết người từ đây mà ra).
Trên thực tế, thương
lục không phải là vị thuốc xa lạ gì đối với Đông y. Trong sách thuốc đầu
tiên Thần Nông bản thảo kinh xuất hiện cách đây gần 2.000 năm đã có ghi
chép tỉ mỉ về vị thuốc này nhưng xếp nó vào nhóm “hạ phẩm” vì là thuốc
có độc, không được dùng nhiều và lâu dài, nên ít được thầy thuốc sử dụng
phổ biến.
Xin trích phần giới
thiệu về cây thương lục Phytolacca acinosa Roxb trong Từ điển cây thuốc
của Võ Văn Chi:
Mô tả:
Cây thảo sống nhiều năm, cao tới 1,5m. Rễ củ mập. Thân hình trụ nhẵn,
màu xanh lục, ít phân nhánh. Lá mọc so le, phiến xoan ngược to, dài 12 -
25cm, rộng 5 - 10cm; cuống lá 3cm, đầu nhọn tù, gốc nhọn. Chùm hoa đối
diện với lá song không gắn trước lá, cao 15 - 20cm; 5 lá đài trắng, nhị
8, lá noãn 8 - 10. Quả mọng, hình cầu dẹt, có 8 - 10 quả đại với vòi
nhụy tồn tại, khi chín có màu tía đen, hạt đen, dẹp, hình thận hay tròn.
Hoa tháng 5 - 7, quả tháng 8 - 10.
Bộ phận
dùng: Rễ củ - Radix Phytolaccae, thường gọi là thương lục.
Nơi sống
và thu hái: Loài cây Ấn Độ được trồng nhiều làm cảnh và làm thuốc.
Trồng bằng mầm rễ và bằng hạt. Có thể thu hoạch rễ vào mùa thu hay mùa
đông. Đào rễ về, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, thái mỏng và phơi khô. Có khi
người ta ngâm vào rượu có pha mật ong rồi mới phơi hay sấy khô.
Thành phần hóa học:
Trong củ có một chất độc đắng gọi là phytolaccatoxin, rất nhiều muối
kali nitrat, axit oxymyristinic và một chất steroid saponin; có sách nêu
có axit esculentic.
Tính vị,
tác dụng: Rễ có vị đắng, tính lạnh, có độc. Có tác dụng trục thủy
tiêu thũng, thông lợi nhị tiện, giải độc tán kết. Ở Ấn Độ cây được xem
như có tác dụng gây ngủ. Trong rễ có steroid saponin, chất này có tác
dụng diệt tinh trùng.
Công dụng:
Thông thường trị:
- Thủy thũng, cổ
trướng, nhị tiện không thông.
- Viêm loét cổ tử
cung, bạch đới nhiều.
- Đinh nhọt và bệnh mủ
da. Hiện nay thường dùng để chữa những trường hợp phù nề, ngực bụng đầy
trướng, cổ đau khó thở. Ngày dùng 3 - 10g dạng thuốc sắc, dùng riêng
hay phối hợp với các vị thuốc khác. Ở Ấn Độ dầu rễ trị đau khớp.
Bài thuốc
chữa bệnh có thương lục
- Chữa viêm thận cấp
và mạn: Thương lục 10g, thịt lợn 60g, cho nước vào nấu chín, chia làm 3
lần ăn trong ngày.
- Chữa chứng đau cổ
họng: Dùng rễ thương lục hơ nóng bọc vải chườm vào cổ.
- Bệnh mủ da: Thương
lục 15g, bồ công anh 60g, nấu nước rửa.
Chú ý:
- Không dùng cho phụ
nữ có thai và người tỳ vị hư nhược.
- Một số người nhầm
gọi nó là sâm cao ly, nhân sâm, dẫn đến trường hợp ngộ độc, do đó phải
hết sức cẩn thận.
Xin được nói thêm,
trong hầu hết các tài liệu dược học của các tác giả như Đỗ Tất Lợi, Võ
Văn Chi, Lê Trần Đức, Trần Văn Kỳ... mà tôi tham khảo khi viết về cây
thuốc thương lục đều có ghi chú vấn đề nhầm lẫn chết người này. Như
trong sách Trồng hái và dùng cây thuốc của Lê Trần Đức, NXB Nông nghiệp
in năm 1984 đã từng lưu ý: “Hiện nay củ thương lục được bán ở Hà Nội và
chở vào miền Nam
bán với tên giả mạo hồng sâm hay phòng sâm. Củ thương lục chính là một
vị thuốc công hạ mãnh liệt, có thể gây sảy thai... Dù người khỏe mạnh mà
dùng thì cũng tổn thương gân cốt và hại thận”.
Những cảnh báo như vậy
nếu chỉ nằm trong các sách chuyên môn thì khó có điều kiện tiếp xúc với
quảng đại quần chúng. Vì thế mới có sự lầm lẫn như trên đã nói tưởng
cây sâm, trồng nhầm thương lục.